Dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu trong trường tiểu học.

-----------

I. QUAN NIỆM VỀ NGƯỜI GIÁO VIÊN HIỆU QUẢ

            Thời đại chúng ta đang sống là thời đại chạy đua về khoa học – công nghệ giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó, quốc gia nào không phát triển được năng lực khoa học – công nghệ của mình thì quốc gia ấy sẽ không tránh khỏi sự tụt hậu, chậm phát triển. Do vậy, một nền giáo dục tiên tiến tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng đóng góp cho sự phát triển năng lực khoa học – công nghệ quốc gia, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững là đích mà tất cả các quốc gia nhắm tới.

            Mục tiêu của giáo dục là khơi dậy lòng say mê học tập, kích thích sự tò mò và óc sáng tạo của học sinh để các em có thể kiến  tạo kiến thức từ những điều nhà trường mang đến và thực sự thấy rằng mỗi ngày đến trường là một ngày có ích.

            Sự hiện diện của một nền giáo dục như vậy phụ thuộc vảo nhiều yếu tố, trong đó có quan niệm về vai trò của người thầy. Đặt vai trò của người thầy lên vị trí uy quyền tuyệt đối về chân lí khoa học là một sai lầm, nhưng sai lầm sẽ lớn hơn nếu hạ thấp vai trò của người thầy trong giáo dục. Do vậy, cần nói đến vai trò của người GV có tri thức khoa học và nghiệp vụ sư phạm, biết quan tâm tới học sinh, chú trọng vào những học sinh cần giúp đỡ (HS khiếm khuyết, HS có nguy cơ bị ở lại lớp, có các khả năng không đạt chuẩn), biết phát hiện và phát triển năng khiếu của học sinh có khả năng nổi trội, có khuynh hướng sáng tạo, suy nghĩ độc lập và đa chiều.

1.1. Mẫu giáo viên tiền chuyên nghiệp.

            Để có thể trở thành GV hiệu quả, một người GV cầm có những phẩm chất tiên quyết giúp cho việc giảng dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục đạt kết quả như mong đợi. Có thể kể đến những phẩm chất quan trọng mà người GV cần có, đó là tình yêu mến trẻ, năng lực ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn và kiến thức về giáo dục học.

            1/. Tình yêu mến trẻ: GV trước hết phải có tình cảm đối với học sinh của mình. Tình cảm làm cho GV hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sống, tâm tư nguyện vọng của học sinh. Nhờ có tình yêu mến chân thành với trẻ mà GV hiểu điều kiện sống và học tập, khả năng tư duy của học sinh ...Từ đó, GV lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động sư phạm phù hợp với học trò, nhằm hỗ trợ những học sinh có khó khăn và bồi dưỡng cho những học sinh có năng khiếu. Do vậy, mỗi GV cần dành cho học sinh một tình cảm yêu mến chân thành.

2/. Năng lực ngôn ngữ: Nhờ có năng lực ngôn ngữ, GV có thể truyền đạt một cách đầy đủ, mạch lạc các thông tin bài học đến học sinh, tổ chức cho học sinh các hoạt động học tập hiệu quả. Ngoài ra, lời nói của GV là một hình mẫu để học sinh noi theo. Rất nhiều trường hợp, có thể nhận thấy dấu ấn ngôn ngữ của GV trong lời nói của học sinh. Do vậy, GV cần rèn luyện để có kĩ năng ngôn ngữ tốt.

3/. Kiến thức chuyên môn: Kiến thức chuyên môn có vai trò tích cực làm nên sự thành công của GV. GV có kiến thức chuyên môn vững có khả năng truyền tải cho học sinh những kiến thức khong có sẵn trong SGK, tổ chức cho học sinh những buổi thảo luận đầy ý nghĩa và các hoạt động “lấy học sinh làm trung tâm”.

Nội dung dạy học ở tiểu học không phải là bản tóm lược các thông tin khoa học chuyên ngành mà được lựa chọn theo nhiều tiêu chí, nhằm đạt mục tiêu môn học và đảm bảo vừa sức học sinh. Do vậy, GV còn phải hiểu mục tiêu môn học và lo-gic của nội dung môn học, từ đó tổ chức các hoạt động học tập của học sinh một cách hiệu quả, hướng dẫn các em vận dụng những điều đã học vào thực tiễn. Cũng nhờ có kiến thức chuyên môn, GV có thể chọn được những tỉnh huống vó vấn đề để phát hiện học sinh có năng khếu và bồi dưỡng năng khiếu vho các em. Do vậy, GV cần học tập để nắm vững kiến thức chuyên môn, biết lựa chọn, xay dựng nội dung học tập phù hợp với đối tượng.

4/. Kiến thức về giáo dục học: Kiến thức về giáo dục học (bao gồm cả kiến thức về PPDH bộ môn) là một troong những yếu tố quan trọng làm nên hiệu quả giảng dạy của GV và thnah2 tích học tập của học sinh. Một GV cho dù giỏi kiến thức chuyên môn nhưng khoong6 có kĩ năng dạy học thì không thể giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức bài học và hình thành các kĩ năng liên quan. Nếu GV không có kĩ năng tổ chức hoạt động cho học sinh thì không thể làm cho các em hào hứng học tập.

Kiến thức về giáo dục học chỉ cho GV biết cách tổ chức các hoạt động trong giờ học và triển khai kiến thức bài học một cách khoa học mà không chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân. Do vậy, GV cần phải học tậpbđể có kiến thức đầy đủ về giáo dục học và biết chuyển hóa những kiến thức ấy thành kĩ năng sư phạm.

1.2. Mẫu giáo viên hiệu quả

1.2.1. Người giáo viên hiệu quả phải có các phẩm chất nghề ngiệp phù hợp.

Dưới đây là những phẩm chất nghề nghiệp cơ bản mà một GV cần có:

a/. Thế giới quan khoa học.

            Thế giới quan khoa học là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người, là yếu tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách. Thế giới quan không chỉ quyết định niềm tin chính trị mà còn quyết định toàn bộ hành vi của GV biết lựa chọn nội dung, phương pháp và giáo dục thích hợp, biết kết hợp giáo dục với nhiệm vụ chính trị xã hội, gắn với nội dung bài giảng với thực tiễn.

b/. Lí tưởng nghề nghiệp

Lí tưởng nghề nghiệp của nhàn giáo là đem lại hạnh phúc cho người học. Lí tưởng nghề nghiệp của Gv có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách học sinh.

Lí tưởng nghề nghiệp của GV biểu hiện ở lòng yêu trẻ, sự say mê nghề nghiệp, lương tâm nghề nghiệp, tận tụy, hi sinh với công việc, tác phong làm việc cần cù có trách nhiệm, có lối sống chân tình, giản dị, ...Lí tưởng đó tạo nên sức mạnh giúp GV vượt qua mọi khó khăn thử thách để hướng dẫn, điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.

Nhà giáo dục người Nga Macarenco nói: “Chúng ta có thể khẳng định rằng nếu trường sư phạm không giáo dục lí tưởng nghề dạy học cho giáo sinh thì cũng có nghĩa là không giáo dục gì cả”. Lí tưởng nghề nghiệp không phải là cái có sẵn, cũng không được truyền từ người này sang người khác bằng cách áp đặt. Muốn hình thành lí tưởng nghề nghiệp, người GV phải phấn đấu lâu dài, bền bỉ. Chính trong quá trình đó, nhận thức về nghề của GV ngày càng nâng cao, tình cảm nghề nghiệp của GV ngày càng sâu sắc.

c/. Lòng yêu trẻ

lòng yêu trẻ là một trong những phẩm chất đạo đức cao quý của con người. Riêng đối với GV thì lòng yêu trẻ là phẩm chất đặc trưng trong nhân cách của họ. Lòng tin yêu học sinh và lòng yêu nghề gắn bó với nhau, tạo thành động lực hành động của người GV, thôi thúc họ hành động vì mục tiêu giáo dục. Lòng yêu trẻ càng sâu sắc bao nhiêu thì GV càng làm được nhiều điều tốt đẹp bấy nhiêu. Người GV có lòng yêu trẻ luôn cảm thấy vui sướng khi được tiếp xúc với trẻ, hiểu được thế giới của trẻ, quan tâm đầy thiện ý, ân cần và không có sự phân biệt đối xử với trẻ; luôn giúp đỡ trẻ bằng những lời khuyên nhủ hoặc bằng hành động thực tế một cách chân tình và giản dị; yêu thương nhưng không nuông chiều trẻ thái quá rèn giũa nhưng không yêu cầu trẻ quá cao hay quá nghiêm khắc với trẻ. Lòng yêu thương trẻ của người GV thể hiện ở sự tôn trọng và yêu cầu ở trẻ một cách hợp lí.

d/. Lòng yêu nghề (yêu lao động sư phạm)

L.N. Tôn-xtôi từng nói: “Để đạt được thành tích trong công tác, người thầy giáo phải có một phẩm chất – đó là tình yêu. Người thầy giáo có tình yêu trong công việc là đủ trở thành người GV tốt”.

Người GV yêu nghề có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, luôn tìm cách cải tiến nội dung, PPDH. Họ không tự thỏa mãn với trình độ hiểu biết và tay nghề của mình và những điều mình đã làm được. Chỉ những GV cống hiến cả cuộc đời cho thế hệ trẻ, coi việc hoàn thành nhiệm vụ đào tạo con người làm hạnh phúc của mình mới có thể thực hiện được vai trò “người kĩ sư tâm hồn” một cách xứng đáng.

1.2.2. Người giáo viên hiệu quả phải có các năng lực sư phạm phù hợp.

            Năng lực của GV là những thuộc tính tâm lí giúp họ hoàn thành tốt hoạt động dạy học và giáo dục. Năng lực của GV được chia thành ba nhóm: nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực giáo dục, nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm.

a/. Nhóm năng lực dạy học.

            *Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục.

            Năng lực hiểu học sinh là khả năng “thâm nhập vào thế giới bên trong” của trẻ, hiểu biết tường tận về nhân cách của chúng cũng như khả năng quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lí của HS trong quá trình dạy học và giáo dục. Năng lực hiểu học sinh của GV biểu hiện ở:

            - Khả năng xác định kiến thức đã có ở học sinh, từ đó xác định mức độ và lượng kiến thức mới cần cung cấp cho học sinh;

            - Khả năng dự đoán được những thuận lợi và khó khăn, xác định được mức độ căng thẳng ở học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ học tập;.

            - Khả năng quan sát tinh tế và có thể xây dựng những biểu hiện chính xác về lời giảng của mình đã được học sinh khác nhau lĩnh hội như thế nào.

Vì vậy, muốn hiểu học sinh, GV phải luôn quan tâm, gần gũi các em với tình thương và trách nhiệm; phải nắm vững chuyên môn, hiểu biết đầy đủ về tâm lí của trẻ và kết hợp với những phẩm chất tâm lí cần thiết.

            *Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo.

            Tri thức và tầm hiểu biết của GV là năng lực cơ bản, năng lực trụ cột của nghề dạy học. Nhà giáo dục người Nga Xukhômlinxki viết: “Khi nào tầm hiểu biết của GV rộng hơn chương trình của nhà trường một cách vô bờ bến thì lúc đó GV mới là một thợ cả lành nghề, một nghệ sĩ, một nhà thơ của quá trình sư phạm”.

            Tri thức và tầm hiểu biết của GV biểu hiện:

            - Nắm vững và hiểu biết rộng về môn mình phụ trách;

            - Thường xuyên theo dõi, nắm bắt xu hướng phát triển và phát minh trong khoa học môn mình phụ trách và các khoa học lân cận;

            - Biết tiến hành nghiên cứu khoa học;

            - Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri thức của mình.

            Để có năng lực này, người GV phải có nhu cầu mở rộng tri thức và tầm hiểu biết, có phương pháp tự học.

            *Năng lực lựa chọn và khai thác nội dung học tập.

            Người GV có năng lực lựa chọn và khai thác nội dung học tập khi biết cách:

- Lựa chọn khai thác nội dung học tập sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, khả năng nhận thức và kinh nghiệm sống của học sinh.

- Điều chỉnh tư liệu của bài học hoặc bài tập, sắp xếp lại bố cục nội dung học tập, và thực hiện những tác động khác để học sinh được học với một nội dung học tập tinh, chính xác, liên hệ được nhiều môn học, mảng kiến thức khác nhau, có thể liên hệ vận dụng một cách dễ dàng vào thực tiễn.

            *Năng lực tổ chức hoạt động học của học sinh, sử dụng các kĩ thuật dạy học phù hợp trong quá trình dạy học.

            Người GV phải biết lựa chọn, tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của học sinh bằng các thủ thuật, thao tác dạy tích cực và hiệu quả. Trong quá trình dạy học, người GV cần:

            - Đặt học sinh vào vị trí người “khám phá” trong quá trình học tập;

            - Truyền đạt thông tin một cách rõ ràng, dễ hiểu đối với học sinh;

            - Tạo ra hứng thú, kích thích học sinh suy nghĩ một cách độc lập và tích cực;

            - Tạo điều kiện cho học sinh có tậm thế tốt nhất cho việc chiếm lĩnh nội dung học tập.

            *Năng lực ngôn ngữ

            Năng lực ngôn ngữ là khả năng biểu đạt rõ ràng, mạch lạc ý chí và tình cảm của mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ. Năng lực ngôn ngữ có vai trò quan trọng đảm bảo cho người GV thực hiện chức trách người thầy. nhờ có năng lực ngôn ngữ, GV truyền đạt được thông tin, thúc đẩy sự chú ý và suy nghĩ của học sinh, điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh. Nhờ có năng lực ngôn ngữ, GV giải thích, bàn bạc, tổ chức, huy động các lực lượng khác tham gia vào hoạt động giáo dục. Năng lực ngôn ngữ của GV biểu hiện:

            - Nội dung lời nói sâu sắc, chứa đựng mật độ thông tin lớn;

            - Hình thức lời nói trong sáng, giản dị,; sử dụng các phương tiện hỗ trợ phi ngôn ngữ một cách phù hợp và hiệu quả; phù hợp phong cách, chức năng.

b/. Nhóm năng lực giáo dục.

            *Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách cho HS.

            Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách cho học sinh yêu cầu GV biết dựa vào mục đích và yêu cầu giáo dục để hình dung trước cần phải giáo dục cho học sinh những phẩm chất, nhân cách nào và hướng hoạt động của mỉnh để đạt được mục đích đó. Năng lực này của GV có một số biểu hiện, như:

            - Khả năng tiên đoán sự phát triển của những thuộc tính này hay thuộc tính khác ở từng học sinh, nắm được nguyên nhân nảy sinh và mức độ của những thuộc tính đó;

            - Khả năng thấy được sự khác nhau trong nhân cách của học sinh dưới ảnh hưởng của dự án phát triển nhân cách đã xây dựng;

            - Khả năng hình dung được hiệu quả của những tác động sư phạm nhằm hình thành nhân cách học sinh.

            *Năng lực giao tiếp sư phạm.

            Năng lực giao tiếp sư phạm là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm lí bên trong của học sinh và bản thân GV; năng lực biết sử dụng hợp lí các phương tiện giao tiếp, biết cách tổ chức, điều khiển và điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích giáo dục. Năng lực giao tiếp sư phạm của người GV có một số biểu hiện:

            - Khả năng định hướng giao tiếp dựa vào sự biểu lộ bên ngoài để phán đoán về nhân cách của học sinh;

            - Khả năngđdịnh vị: đồng cảm, biết đặt mình vào vị trí của đối tượng, biết tạo ra điều kiện để đối tượng chủ động, thoãi mái khi giao tiếp với mình;

            - Khả năng điều khiển quá trình giao tiếp, xác định được hứng thú, nguyện vọng của đối tượng để tìm ra đề tài giao tiếp thích hợp; làm chủ trạng thái xúc cảm của bản thân và biết sử dụng phương tiện giao tiếp phù hợp.

            *Năng lực cảm hóa học sinh.

            Năng lực cảm hóa học sinh là năng lực gây ảnh hưởng đối với học sinh về mặt tình cảm và ý chí. Đó là khả năng làm cho học sinh nghe, tin và làm theo GV bằng tình cảm, niềm tin. GV có năng lực cảm hóa học sinh là người:

            - Luôn có tinh thần trách nhiệm cao, có niềm tin và có kĩ năng truyền niềm tin đó cho học sinh;

            - Luôn quan tâm chu đáo và khéo léo ứng xử khi giao tiếp với học sinh, biết tôn trọng yêu cầu hợp lí của học sinh;

            - Có nguyên tắc, nghiêm khắc, đề cao kỉ luật nhưng vị tha.

            *Năng lực ứng xử sư phạm.

            Năng lực ứn xử sư phạm là năng lực tìm ra những phương thức tác động đến học sinh một cách hiệu quả nhất, cân nhắc đúng đắn những nhiệm vụ sư phạm cụ thể, phù hợp với những đặc điểm và khả năng của cá nhân cũng như tập thể học sinh trong từng tình huống sư phạm cụ thể. Sự khéo léo ứng xử sư phạm của GV biểu hiện:

- Biết sử dụng các tác động sư phạm một cách nhạy bén và có giới hạn (khuyến khíchhay trách phạt, nghiêm khắc hay nhẹ nhàng, ...);

            - Biết phát hiện kịp thời và giải quyết khéo léo những vấn đề xảy ra bất ngờ, không nóng vội, không thô bạo. Nhanh chóng xác định được vấn đề xảy ra và kịp thời áp dụng những biện pháp thích hợp;

            - Biết chuển từ “thế bị động “ thành “thế chủ động” trong những tình huống cụ thể để giải quyết vấn đề;

            - Thường xuyên quan tâm đến những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh.

            *Năng lực tham vấn, tư vấn, hướng dẫn.

            Năng lực tham vấn, tư vấn, hướng dẫn là khả năng chia sẻ, trợ giúp, khơi dậy tiềm năng ở học sinh của người GV để giúp các em tin vào bản thân, nâng cao hiểu biết về bản thân, về người khác, về các sự vật, hiện tượng để có thể giải quyết vấn đề đang gặp phải. Một số biểu hiện:

            - Biết động viên, khuyến khích, tiềm năng của học sinh, giúp các em tin vào bản thân, tự nhận biết mình đang có vấn đề gì và mong muốn được Gv giúp đỡ giải quyết vấn đề của mình;

            - Tổ chức các chương trình hướng dẫn với mục đích cung cấp thông tin, kinh nghiệm về các lĩnh vực học tập, hướng nghiệp, giao tiếp ứng xử, ... cho học sinh, giúp các em hiểu biết đầy đủ về các vấn đề, có những quyết định phù hợp;

            - Chấp nhận nhữngnhững cái mà học sinh hiện có, tôn trọng quyền tự quyết của các em; khơi dậy tiềm năng của học sinh, giúp các em tự tin vào bản thân, dám nghĩ dám làm, dám đối đầu với thực tế.

            *Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm.

            GV cần có năng lực tổ chức hoạt động sư phạm để đảm bảo tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục đạt kết quả tốt. Một số biểu hiện của người GV có năng lực tổ chức hoạt động sư phạm:

- Tổ chức và cổ vũ học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau trong hoạt động dạy học và giáo dục ở lớp cũng như ở ngoài trường;

- Xây dựng tập thể học sinh thành tập thể vững mạnh, đoàn kết, có ảnh hưởng tốt mọi thành viên trong tập thể;

- Biết tổ chức, vận động và phối hợp các lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục theo một mục tiêu xác định;

- Biết vạch kế hoạch hoạt động một cách khoa học;

- Biết sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục một cách đúng đắn để tác động sâu sắc đến sự phát triển nhân cách của học sinh;

- Biết xác định mức độ và giới hạn của từng biện pháp dạy học và giáo dục khác nhau.

Những thành phần trong cấu trúc nhân cách của người GV được nêu ở trên vừa là đặc điểm vừa là yêu cầu có trong phẩm chất, năng lực của người GV hiệu quả.

           

2. KHUNG NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA.

2.1. Mĩ

            Mĩ là quốc gia tiên phong trong xây dựng chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông. Ủy ban Quốc gia Chuẩn nghề dạy học (National Board for Professional Teacher Standards) được thành lập năm 1987, đã đề xuất năm điểm cốt lõi để các bang vận dụng:

            1/. GV phải tận tâm với HS và việc học của HS;

            2/. GV phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình.

            3/. GV phải có trách nhiệm quản lí và hướng dẫn HS học tập;

            4/. GV phải suy nghĩ một cách hệ thống và thực tế hành nghề của học sinh và học tập qua trải nghiệm.

            5/. GV phải là thành viên của cộng đồng học tập.

            Dựa vào năm đề xuất cốt lõi đó, mỗi bang đã xây dựng Chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông của bang mình.

2.2. Liên minh châu Ậu1

(1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn Triển khai chuẩn nghề nghiệp GV THCS, GV THPT, 2010.)

            Liên minh châu Âu khuến cáo các năng lực mà người giáo viên cần chuẩn bị, gồm ba lĩnh vực:

            1/. Kiến thức hiểu biết;

            2/. Kĩ năng;

            3/. Niềm tin, thái độ, giá trị và sự cam kết.

            Dưới đây là tóm tắt chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông của một quốc gia:

2.2.1. Vương quốc Anh

            Chuẩn nghề nghiệp GV của Anh (2007) được cấu trúc làm ba phần (lĩnh vực) có liên quan với nhau: 1) Những đặc trưng nghề nghiệp; 2) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp; 3) Các kĩ năng nghề nghiệp.

            Mỗi phần có các tiêu chuẩn; mỗi tiêu chuẩn có các yêu cầu. Đối với mỗi loại, GV có các yêu cầu khác nhau về số lượng và mức độ.

Chuẩn nghề nghiệp GV được xác định cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của GV: GV mới vào nghề ; tất cả GV; GV trong thang bậc trả lương cao; GV giỏi; GV có kĩ năng cấp cao.

Tiêu chuẩn và yêu cầu nghề nghiệp dành cho tất cả GV (loại C) gồm:

1) Những đặc trưng nghề nghiệp: Mối quan hệ với HS; phạm vi làm việc; giao tiếp và làm việc cùng với người khác; sự phát triển chuyên môn của cá nhân.

2) Kiến thức và sự am hiểu chuyên môn: Dạy và học; môn học và chương trình; khái quát và đa dạng; sức khỏe và hạnh phúc.

3) Các kĩ năng nghề nghiệp: Lập kế hoạch; giảng dạy; đánh giá, giám sát và phản hồi; xem xét lại quá trình dạy và học; môi trường học tập; làm việc nhóm và phối hợp.

2.2.2. Cộng hòa Liên bang Đức

Năng lực nghề nghiệp của GV tại Cộng hòa Liên bang Đức (áp dụng từ đầu năm học 2005 – 2006) được trình bày thành bốn lĩnh vực:

1/. Năng lực dạy học: Xây dựng kế hoạch bài học và thực hiện giờ lên lớp phù hợp với yêu cầu chuyên môn; hỗ trợ việc học của học sinh bằng cách tổ chức các tình huống học tập, động viên học sinh thiết lập các mối liên hệ và áp dụng cái đã học; khuyến khích học sinh tự quyết định trong các hoạt động học tập.

2/. Năng lực giáo dục (nghĩa hẹp): hiểu các điều kiện sống của học sinh về xã hội, văn hóa và tác động đến sự phát triển nhân cách học sinh trong khuôn khổ nhàn trường; truyền đạt các giá trị và chuẩn mực, hỗ trợ việc đánh giá và hành động tự quyết của học sinh; tìm ra giải pháp cho các vấn đề khó khăn và xung đột trong nhà trường, trong giờ học.

3/. Năng lực đánh giá: Chẩn đoán các tiền đề học, quá trình học, khuyến khích học sinh học có mục đích, tư vấn cho học sinh và cha mẹ học sinh; nắm vững thành tích học tập của học sinh trên cơ sở các thước đo minh bạch.

4/. Năng lực đổi mới: Ý thức được các yêu cầu đặc biệt của nghề dạy học, am hiểu nghề của mình với một trách nhiệm và nghiệp vụ đặc biệt; hiểu nghề của mình và có nhiệm vụ học tập thường xuyên.

2.3. Úc2

(2 Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuẩn nghề nghiệp GVPT, khung năng lực nghề nghiệp giảng viên sư phạm và vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng GV các trướng sư phạm (Kỉ yếu hội  thảo), 2016.

            Bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp của Úc được chia thành ba nhóm chính về năng lực GV:

            1/. Kiến thức nghề nghiệp: Hiểu về HS và biết cách HS học thế nào; hiểu nội dung dạy học và biết cách làm thế nào để dạy nội dung đó.

            2/. Thực hành nghề nghiệp: Lập kế hoạch và giảng dạy một cách hiệu quả; tạo ra và duy trì một môi trường học tập an toàn, có hổ trợ; đánh giá thông tin phản hồi và báo cáo về việc làm của HS.

            3/. Cam kết nghề nghiệp: Tham gia học tập chuyên môn; tham gia chuyên môn với đồng nghiệp, cha mẹ HS và cộng đồng.

2.4. Thái Lan3

                (3 Chu Phan, Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông ở Thái Lan, Dạy và học ngày nay, 2, tr 57-59, 2009.)

Những tiêu chuẩn mà người GV cần phải đạt được (Theo bộ Tiêu chí đánh giá chất lượng phổ thông ở Thái lan):

            1/. GV cần có phẩm chất đạo đức, trình độ/ kiến thức và năng lực phù hợp với trách nhiệm, luôn phấn đấu tự phát triển, hòa nhập với cộng đồng.

            2/. GV cần có năng lực, quản lí hiệu quả hoạt động dạy – học, đặc biệt dạy học lấy HS làm trung tâm.

3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VIỆT NAM

3.1. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học Việt Nam trong sự so sánh.

            Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học Việt Nam được quy định tại Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 04 tháng 5 năm 2007.

            So sánh Chuẩn nghề nghiệp GV của một số quốc gia khác (đã được trình bày tóm lược trên đây), có tể thấy những sự tương đồng bên cạnh một số khác biệt.

            Sự tương đồng giữa các bộ Chuẩn nghề nghiệp GV là: Các bộ Chuẩn đều đề cập đến các năng lực, phẩm chất, như: năng lực tìm hiểu đối tượng, năng lực thấy hiểu kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm, năng lực hoạt động chính trị - xã hội, năng lực phát triển nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp.

            Sự khác biệt trước hết thể hiện ở trật tự sắp xếp các yêu cầu theo trình tự sau: 1) Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (Điều 5); Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức (Điều 6); Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kĩ năng sư phạm (Điều 7). Điều này cho thấy các phẩm chất về chính trị, lối sống rất được quan tâm và có vị trí quan trọng trong các tiêu chuẩn mà người GV tiểu học Việt Nam cần có. Điều này cũng phù hợp với Nghị quyết TW2 (khóa VIII): “GV phải đủ đức, đủ tài”, “phải nâng cao phẩm chất năng lực cho đội ngũ GV”.

            Bộ Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học Việt Nam đặt ra yêu cầu toàn diện về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, các kĩ năng hoạt động chính trị - xã hội. Trong khi đó, một số nước chú trọng đến trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cua3 người GV (ví dụ: Mĩ, Anh, Úc).

3.2. Kế thừa và bổ sung4

(4 Nguyễn Thúy Hồng – Trịnh Thị Anh Hoa, chuẩn nghề nghiệp GV: Kinh nghiệm các nước và bài học cho Việt Nam [đăng trong Kỉ yếu hội thảo “Chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông, khung năng lực nghề nghiệp giảng viên sư phạm và vấn đề nâng cao chất đào tạo, bồi dưỡng GV các trường sư phạm”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016}.

                Mỗi nước xây dựng chuẩn nghề nghiệp GV phù hợp với định hướng, yêu cầu thực tiễn phát triển riêng. Tuy nhiên, có những điểm chung mà chúng ta cần tham khảo để bổ sung và hoàn thiện chuẩn nghề nghiệp GV của Việt Nam.

3.2.1. Về mục đích xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên.

Chuẩn nghề nghiệp GV cần được xây dựng với mục đích hỗ trợ, nâng cao hiệu quả giảng dạy của GV, giúp GV và CBQL có căn cứ để soi chiếu, tự nhìn nhận, phát hiện những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân để từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của công việc. Chuẩn nghề nghiệp GV cũng là mốc để GV phấn đấu trau dồi nhân cách và năng lực chuyên môn.

Chuẩn nghề nghiệp GV là công cụ đánh giá năng lực của đội ngũ một cách khách quan, từ đó định ra chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tuyển dụng, sử dụng, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ.

Chuẩn nghề nghiệp GV cũng là căn cứ để đánh giá và công nhận các cơ sở đào tạo GV.

3.2.2. Về cấu trúc chuẩn nghề nghiệp giáo viên.

Chuẩn nghề nghiệp GV bao gồm những tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể về năng lực nghề nghiệp ở từng mức độ năng lực nghề nghiệp (GV tập sự, GV, GV chính, GV cao cấp). Nội dung chuẩn được chia theo nhóm năng lực và bao gồm một số tiêu chí, mỗi tiêu chí sẽ được cụ thể hóa thành các chỉ báo và minh chứng.

3.2.3. Về yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên.

Chuẩn nghề nghiệp GV phải đảm bảo các yêu cầu:

- Ngắn gọn, thể hiện rõ những mong đợi ở GV, cụ thể theo mức độ năng lực nghề nghiệp, phù hợp thực tiễn;

- Tập trung vào các hoạt động phát triển nghề nghiệp của GV (giáo dục và giảng dạy, tự học và phát triển các giá trị cá nhân, lan tỏa ảnh hưởng tích cực tới học sinh, đồng nghiệp, phụ huynh học sinh và những người khác trong cộng đồng);

- Các yêu cầu cụ thể của Chuẩn phải được phản ánh đầy đủ các khía cạnh và những yêu cầu của người GV hiệu quả theo hướng nâng cao vai trò chủ thể, tăng cường sự tham gia của người học vào qúa trình học, vào đời sống nhà trường, tôn trọng sự đa dạng, đảm bảo các quyền cơ bản cho trẻ em,...;

- Có hướng dẫn sử dụng bộ Chuẩn theo mục đích đạ đề ra cho từng đối tượng; GV đánh giá (tự đánh giá, đánh giá đồng nghiệp), lãnh đạo đánh giá, học sinh đánh giá, phụ huynh đánh giá,...

3.3. Khung năng lực và sự kết hợp với mô hình trường học mới theo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông5

(5 Nguyễn Hữu Hợp, Hướng dẫn dạy học theo định hướng phát triển năng lực, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016).

Trường học mới là một mô hình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Mô hình này chú trọng tới việc hình thành cho học sinh năng lực nhận thức, năng lực tự học, các kĩ năng giải quyết vấn đề; tạo cơ hội cho học sinh tự học, được làm quen cách hòa nhập, cách thích ứng với môi trường và cộng đồng trong một thế giới đang thay đổi nhnah chóng. Điều này là tiền đề để học sinh có những năng lực căn bản đầu tiên theo định hướng của UNESCO: :Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống”.

Mô hình trường học mới Việt Nam dựa trên các nguyên tắc sau:

1/. Lấy HS làm trung tâm (HS được học theo khả năng của mình; tự quản, hợp tác và tự giác trong học tập)

Theo nguyên tắc này, GV cần lựa chọn khai thác các nội dung dạy học sao cho có lợi nhất cho việc hình thành kiến thức, kĩ năng của học sinh. Về cách tổ chức lớp học, GV cần tổ chức lớp học và dẫn dắt hoạt động sao cho học sinh tự giác và “tự mình” phát hiện thông tin bài học qua làm việc cá nhân hoặc làm việc nhóm. Trong mô hình này, Hội đồng tự quản có vai trò quan trọng. Nhờ được tham gia Hội đồng tự quản (luân phiên), các em trở nên mạnh dạn, tự tin hơn rất nhiều và sẵn sàng hợp tác với bạn trong học tập. Tuy nhiên, không nên cực đoan cho rằng học sinh có thể tự đi đến đích mà không cần trợ giúp của GV. Cũng không nên lạm dụng vai trò của Hội đồng tự quản, giao cho các em điều hành toàn bộ hoạt động học tập của cả lớp. Bởi vì, nhiệm vụ và quyền lợi của các em là học tập chứ không phải là người đại diện cho thầy cô để giải quyết toàn bộ các công việc của lớp học. Và bởi vì, tuy khuyến khích học sinh tự học nhưng có những vấn đề ở lớp học chỉ GV mới giải quyết được.

2/. Nội dung học tập gắn bó chặt chẽ với cuộc sống hằng ngày của HS.

Nội dung học tập trong SGK (tài liệu hướng dẫn học) được biên soạn về cơ bản phù hợp với số đông học sinh, phù hợp với nhiều vùng miền. Điều đó không có nghĩa là mọi bài học, bài tập đều phù hợp với mỗi học sinh tới mức có thể dùng “nguyên xi” mà không cần điều chỉnh lệnh bài tập và cả hình thức tổ chức hoạt động học của học sinh.

3/. Xếp lớp linh hoạt.

Học sinh được lân lớp nếu được GV đánh giá đạt các mục tiêu giáo dục tối thiểu.

Để đảm bảo nguyên tắc này, GV cần đánh giá khách quan và chính xác để đảm bảo học sinh không ngồi nhầm lớp. Tuy nhiên, với mong muốn mọi học sinh đề được lên lớp, GV cần có lòng nhiệt tâm và các biện pháp dạy học phù hợp để không phải một học sinh nào ở lại lớp.

4/. Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với GV để giúp đỡ HS một cách thiết thực trong học tập, tham gia giám sát và đánh giá việc học của trẻ.

Dạy học theo phát triển năng lực yêu cầu học sinh phải áp dụng, vận dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống. Muốn được như vậy, rất cần có sự cộng tác của gia đình và cộng đồng hỗ trợ học sinh trải nghiệm thực tế. GV và nhà trường có vai trò rất quan trọng trong việc kết nối các lực lượng hỗ trợ giáo dục này.

5/. Góp phần hình thành nhân cách giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo xu hướng thời đại của HS.

Có thể nói, “trường học mới” là môi trường rất phù hợp cho việc hình thành ý thức tập thể và tinh thần hợp tác của người học. Trong môi trường đó, khoảng cách giữa học sinh và học sinh, giữa học sinh và GV rút ngắn lại, mối quan hệ học đường trở nên dân chủ hơn nhưng vẫn đảm bảo những chuẩn mực xã hội. Cách ứng xử của GV, cách GV tổ chức lớp học có vai trò quyết định không nhỏ trong việc tạo không kh1 thoải mái và các mối quan hệ học đường thân thiện, đúng mực.

3.4. Phác họa mẫu hình giáo viên tiểu học theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông6

(6 Bùi Văn Huệ - Phan Thị Hạnh Mai – Nguyễn Xuân Thức, Giáo trình Tâm lí học tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 2008)

Nhân cách của người GV tiểu học bao gồm hệ thống các phẩm chất, năng lực và tri thức, kĩ năng đáp ứng các yêu cầu hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, hoàn thiện và hoạt động xã hội.

3.4.1. Một số phẩm chất, nhân cách của GV tiểu học.

Người Gv tiểu học cần có những phẩm chất, nhân cách chủ yếu sau:

- Tự nhiên, chân thật; luôn vui vẻ nhưng không suồng sã với học sinh;

- Niềm nở, dễ gần, khoan dung, công bằng; GV cần thể hiện rằng mình yêu quý học sinh, cho dù đó không phải là học sinh ngoan hay giỏi nhất lớp; không nên có những biểu hiện khiến học sinh xấu hổ trước bạn bè;

- Quan hệ tốt với học sinh; nhanh chóng tiếp cận với học sinh, quan tâm tới học sinh; khuyến khích động viên, khen ngợi học sinh trước tập thể, nhưng không “lạm phát” lời khen;

- Khéo ứng xử sư phạm trong những tình huống phức tạp; không nên lấy mình làm thước đo để phán xét hay áp đặt học sinh, mà cần cho học sinh được quyền bày tỏ ý kiến;

- Xây dựng được uy tín thật trước học sinh và phụ huynh học sinh. Uy tín ấy được xây dựng bằng phẩm chất, năng lực chuyên môn và lòng yêu nghề của GV.

3.4.2. Một số năng lực sư phạm của người GV tiểu học.

Năng lực sư phạm của người GV tiểu học gồm năng lực chung và năng lực chuyen biệt.

*Năng lực chung gồm:

- Năng lực “chẩn đoán”: Phát hiện và nhận biết đầy đủ, chính xác, kịp thời sự phát triển của học sinh cùng những đặc điểm của sự phát triển đó;

- Năng lực đáp ứng: Đưa ra những nội dung, biện pháp giáo dục phù hợp với mục tiêu giáo dục và nhu cầu của học sinh;

- Năng lực đánh giá: Nhìn thấy sự thay đổi về nhận thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm của học sinh và kết quả dạy học, giáo dục của bản thân;

- Năng lực thiết lập quan hệ thuận lợi với người khác, đặc biệt là với học sinh;

- Năng lực kết hợp các lực lượng xã hội vào thực hiện mục tiêu giáo dục.

*Năng lực chuyên biệt gồm:

- Năng lực dạy học: năng lực hiểu biết học sinh; năng lực lựa chọn và phát triển nội dung dạy học năng lực tổ chức hoạt động học tập của học sinh;

- Nhóm năng lực giáo dục: năng lực hiểu biết nhân cách của học sinh tiểu học; năng lực cảm hóa học sinh; năng lực “vạch dự án” phát triển nhân cách học sinh; năng lực giải quyết các tình huống sư phạm;

- Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm: năng lực cổ vũ học sinh thực hiện nhiệm vụ khác nhau trong các hoạt động dạy học và giáo dục; năng lực đoàn kết học sinh thành một tập thể thống nhất, lành mạnh, có kỉ luật, có nền nếp đảm bảo mọi hoạt động của lớp đều diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả.

4. PHÁT HIỆN HS CÓ NĂNG KHIẾU VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC7

(7Lê Phương Nga, Bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 2009)

                Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Đổi mới GDPT, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Có thể thấy, “phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu” là một trong những nội dung trong mục tiêu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

            Bồi dưỡng học sinh giỏi là một hướng dạy học tự chọn ở tiểu học nhằm thực hiện GDPT theo định hướng phân hóa, phát huy năng khiếu và khả năng sáng tạo ở học sinh. Việc phát hiện học sinh có năng khiếu và bồi dưỡng học sinh giỏi trong các môn học ở tiểu học có vị trí quan trọng, góp phần phát hiện và phát triển năng khiếu cho học sinh trong bối cảnh giáo dục hiện nay thường là nhiều học sinh học theo cùng một nội dung và một hình thức hoạt động.

            Đồng thời với việc thực hiện phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh, bồi dưỡng học sinh giỏi còn thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Bồi dưỡng học sinh giỏi cũng có tác dụng tích cực trở lại đối với GV. Để có thể bồi dưỡng học sinh, GV luôn phải học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn, nâng cao lòng yêu nghề và sự tận tâm với công việc.

4.1. Trí thông minh của học sinh

            Theo Howard Gardner, trí thông minh (intelligence) “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ.

            Bắt đầu từ năm 1983, Howard Gardner đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về đa trí tuệ. Dưới đây là một số loại trí thông minh, theo kết quả nghiên cứu mà Howard Gardner công bố.

1) Trí thông minh ngôn ngữ: Trí thông minh ngôn ngữ thể hiện qua khả năng sử dụng một cách hiệu quả bằng lời nói và ngôn ngữ, thể hiện bằng những từ ngữ, cách nói hoặc viết. Dạng trí tuệ này bao gồm khả năng xử lí văn phạm hay cấu trúc ngôn ngữ, âm vị học hay âm thanh của ngôn ngữ, ngữ nghĩa học,... Người có trí thông minh ngôn ngữ thường giỏi đọc, viết, kể chuyện, ghi nhớ từ và ngày tháng. Họ có xu hướng học tốt nhất bằng cách đọc, ghi chú, lắng nghe bài giảng và qua thảo luận và tranh luận. Họ cũng thường xuyên sử dụng kĩ năng giải thích, giảng dạy và các bài diễn văn hay nói có sức thuyết phục. Những người có trí thông minh ngôn ngữ học ngoại ngữ một cách dễ dàng vì họ có trí nhớ từ cao thu hồi, khả năng hiếu, vận dụng cú pháp và cấu trúc.

2) Trí thông minh lô-gic – Toán học: Đó là khả năng sử dụng hiệu quả các con số và thông thạo lí luận. Những người có trí thông minh này thường nhạy cảm với các quan hệ và các sơ đồ lô-gic, các mệnh đề và trí lệ thức,...các loại quá trình ứng dụng trong trí tuệ lô-gic- toán học bao gồm thuật xếp loại, phân lớp, suy luận, khái quát quá, tính toán và kiểm nghệm giả thuyết. Người có trí thông minh lô-gic – Toán học thường nổi trội trong những môn như: Toán học, Cờ vua, Lập trình máy tính và các hoạt động trừu tượng hoặc những con số, có khả năng để thực hiện các phép toán phức tạp.

3) Trí thông minh không gian: Đó là khả năng tiếp nhận một cách chính xác thế giới không gian qua thị giác và thực hiện thành thạo các hoạt động thay hình đổi dạng trên cơ sở các năng khiếu đó. Những người có trí thông minh không gian mạnh thường nhạy cảm về màu sắc, đường nét, hình dạng và các tương quan vốn có giữa những yếu tố đó. Dạng trí tuệ này bao gồm khả năng nhìn, khả năng thể hiện bằng đồ thị và các ý tưởng về không gian thị giác và khả năng tự định hướng một cách thích hợp trong không gian. Do vậy, những người có trí thông minh không gian thường có một cảm giác tốt về phương hướng, ngoài ra họ cũng có sự phối hợp tay và mắt rất tốt, mặc dù điều này thường được xem như là một đặc trưng của vận động cơ thể.

4) Trí thông minh vận động: Đó là sự thành thạo trong việc sử dụng toàn bộ cơ thể để thể hiện các ý tưởng và cảm xúc cũng như khéo léo trong việc sử dụng tay để sản xuất hay biến đổi sự vật. Dạng trí tuệ này bao gồm các kĩ năng cơ thể đặc biệt như sự phối hợp cử động, khả năng giữ thăng bằng, sự khéo tay, sự mềm dẻo và sức mạnh cơ bắp, tốc độ cũng như các năng khiếu tự cảm, sờ mó, chẩn đoán bằng tay. Những người có năng khiếu này, thường thành thạo trong việc hoạt động thể chất như thể thao hay khiêu vũ và thường thích các hoạt động phong trào. Họ có thể thưởng thức diễn xuất hay biểu diễn, giỏi trong phẩu thuật, xây dựng, thủ công.

5) Trí thông minh âm nhạc: Đó là khả năng cảm nhận, phân biệt, biến đổi và thể hiện các hình thức âm nhạc. Dạng trí tuệ này bao gồm tính nhạy cảm đối với nhịp điệu, âm sắc, âm tần của một bản nhạc. Những người có trí thông minh âm nhạc thường có khả năng rất tốt về ca hát, chơi nhạc cụ và sáng tác nhạc. Họ thường sử dụng bài hát hoặc ghi giai điệu để học hỏi và ghi nhớ thông tin.

6) Trí thông minh giao tiếp: Đó là khả năng cảm nhận và phân biệt các tâm trạng, ý đồ, động cơ và cảm nghĩ của người khác. Dạng trí tuệ này bao gồm năng khiếu nắm bắt nhũng thay đổi về nét mặt, giọng nói, động tác, tư thế; khả năng phân biệt các biểu hiện giao lưu và đáp ứng các biểu hiện đó một cách thích hợp, thiết thực. Những người có trí thông minh nhóm này thường hướng ngoại và nhạy cảm với tâm trạng, cảm xúc, tính khí, động cơ của người khác; họ có khả năng hợp tác, làm việc với người khác. Họ giao tiếp tốt và dễ dàng đồng cảm với người khác; họ có thể là người lãnh đạo hoặc người cộng tác hiệu quả. Họ thường học tốt nhất bằng cách tương tác với người khác và thường thích thú với các cuộc thảo luận, tranh luận.

7) Trí thông minh nội tâm: Đó là khả năng hiểu biết bản thân và hành động một cách thích hợp trên cơ sở tự hiểu mình. Dạng trí tuệ này bao gồm khả năng nhận thức về ưu điểm và hạn chế của bản thân; có ý thức đầy đủ về tâm trạng, ý đồ, động cơ, tính khí và ước ao riêng của mình, kèm theo khả năng tự kiềm chế, tự kiểm soát, lòng tự trọng. Những người có trí thông minh nội tâm mạnh thường là người hướng nội và thích làm việc một mình. Họ thường ham thích đeo đuổi những tư tưởng cơ bản (như triết học...). Họ học tốt nhất khi được phép tập trung vào chủ đề của mình.

8) Trí thông minh thiên nhiên: Đó là khả năng nắm bắt, nận dạng và phân loại tập hợp các loài trong tự nhiên. Dạng trí tuệ này cũng bao gồm sự nhạy cảm với các hiện tượng thiên nhiên. Người có trí thông minh thiên nhiên thích hiểu biết về thế giới tự nhiên, chú ý những đặc điểm và phân loại sinh vật; thích làm bộ sưu tập các loài trong tự nhiên,...

            Lí thuyết đa trí tuệ của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều có một vài kiểu thông minh trên (trí tuệ); tuy nhiên, trong mỗi người sẽ có kiểu thông minh trội hơn kiểu thông minh khác. Trong học thường chỉ đánh giá một học sinh thông qua hai loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn ngữ và trí thông minh về lô-gic – Toán học, đây không phải là quan niệm và cách làm đúng đắn. Làm như vậy là bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp,...đồng thời áp đặt tất cả mọi học sinh đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và phán xét. Nhiều học sinh đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của chúng.

            Với cách quan niệm đa trí thông minh, chúng ta cần quan niệm lại về vấn đề phaat1 hiện và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh.

4.2. Phát hiện học sinh có năng khiếu

            Theo Từ điển tâm lí học sinh (Vũ Dũng) (chủ biên), NXB Từ điển Bách khoa). Năng khiếu là tập hợp những tư chất bẩm sin, nét đặc trưng và tính chất đặc thù làm tiền đề bẩm sinh cho năng lực.

            Năng khiếu tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành năng lực và tài năng. Điều này cho thấy rằng, năng khiếu chỉ là dấu hiệu ban đầu của tài năng chứ không phải là tài năng. Trẻ có năng khiếu thường có ý chí, tình cảm đặc biệt với hoạt động đặc biệt nào đó.

4.2.1. Biểu hiện của học sinh có năng khiếu

            Sau đây là một số biểu hiện của học sinh có năng khiếu:

            - Ngôn ngữ phát triển hơn so với trẻ cùng lứa: vốn từ lớn, diễn đạt tốt;

            - Đọc nhiều và có khả năng đọc sách không dành cho lứa tuổi;

            - Luôn muốn tự giải quyết công việc riêng và dễ dàng đạt tới kết quả cao;

            - Không bằng lòng với kết quả và nhịp điệu làm việc, muốn đạt tới sự hoàn hảo;

            - Quan tâm tới nhiều vấn đề của người lớn: tôn giáo, kinh tế, chính trị, lịch sử, giới tính, không chấp nhận quyền uy, có tinh thần phê phán;

            - Có xu hướng tìm bạn ngang bằng năng lực, thường là hơn tuổi;

            - Tinh thần trách nhiệm cao, không muốn bằng mọi giá để có sự đồng thuận.

4.2.2. Cách phát hiện học sinh có năng khiếu

            Tuy mỗi đứa trẻ có đủ tám loại trí tuệ và đề có thể phát triển tám loại trí tuệ đó một cách hợp lí nhưng trẻ thường bộc lộ thiên hướng phát triển các trí tuệ đặc trưng nào đó ngay từ lúc còn thơ. Ở tuổi bắt đầu đi học, một cách tự nhiên, trẻ đã chọn một cách phù hợp với trí tuệ này hơn so với loại trí tuệ khác.

            Dưới đây là bảng mô tả các năng khiếu của học sinh sớm bộc lộ thiên hướng trí tuệ. GV có thể dựa vào các thông tin trong bảng này để nhận biết thiên hướng trí tuệ của học sinh và phát hiện học sinh có năng khiếu8

(8 Thomas Armstrong, Đa trí tuệ trong lớp học,Lê Quang Long dịch, NXB Giáo dục Việt Nam, tái bản năm 2014.)

Nhóm trẻ

nội trội

về...

 

Suy nghĩ...

 

Thích...

 

Cần...

Ngôn ngữ

Bằng lời

Đọc, viết, kể chuyện, chơi chữ

Sách, băng ghi âm, dụng cụ để viết, giấy, sổ, nhật kí, các buổi trò chuyện, thảo luận, tranh luận,...

Logic- Toán học

Bằng lí luận

Làm thí nghiệm, hỏi, chơi xếp hình, đoán chữ, tính toán

Trang thiết bị để làm thí nghiệm, tư liệu khoa học, công cụ để mày mò, tham quan nơi triển lãm thiên văn học, viện bảo tàng khoa học, ...

Không gian

Bằng hình ảnh, tranh vẽ

Vẽ, tạo mẫu, minh họa, phác họa

Các hoạt động có yêu tố nghệ thuật, trò xếp hình, video, phim ảnh, hình đèn chiếu, các trò chơi đòi hỏi trí tưởng tượng, mê cung, trò đánh đố, sách tranh, tài liệu có minh họa, tham quan bảo tàng nghệ thuật,...

Vận động

Bằng cảm xúc vận động

Múa, chạy, nhảy, xây dựng, tạo dáng, tập động tác

Tập kịch, múa, xây dựng, tham gia thể thao, các trò chơi hình thể, thăm dò đồ vật qua sờ mó, học trực tuyến qua các vật mẫu, mô hình,...

Âm nhạc

Thông qua nhịp điệu và âm thanh du dương

Hát, huýt sáo, hát nhẩm, gõ nhịp bằng tay chân, nghe nhạc

Giải lao bằng ca hát, đi nghe nhạc, chơi nhạc ở nhà hoặc ở trường, nhạc cụ,...

Giao tiếp

Bằng cách trao đổi ý tưởng với người khác

Lãnh đạo, tổ chức giao lưu, huy động mọi người, làm môi giới, kéo bè phái

Bạn bè, các trò chơi tập thể, các cuộc hội họp có tính chất xã hội, các sự kiện cộng đồng, câu lạc bộ, hoạt động ông bầu – huấn luyện viên, tổ chức tập sự,...

Nội tâm

Thông qua sự quan tâm tới nhu cầu, tình cảm, mục tiêu của bản thân

Đặt mục tiêu, suy ngẫm, ước mơ, lập kế hoạch, tư duy

Những nơi bí mật, các công việc làm một mình, các đề án tự điều hành, các lựa chọn độc lập,...

Thiên nhiên

Thông qua thiên nhiên, bằng hình tượng thiên nhiên

Cơi đùa với các con vật cưng, làm vườn, khảo sát thiên nhiên, nuôi động vật, quan tâm tới các hành tinh,...

Tiếp cận thiên nhiên, tương tác với động vật, các phương tiện để nghiên cứu thiên nhiên (kính lúp, ống nhòm),...

 

4.3. Bồi dưỡng HS giỏi, học sinh có năng khiếu

            Trong nhiều trường hợp, chính phụ huynh mới là người phát hiện ra năng khiếu của trẻ và làm cho trí thông minh đó phát triển. Để làm được việc này, phụ huynh học sinh cần:

            - Lưu tâm đến những biểu hiện về thiên hướng trí tuệ của trẻ để tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ, tránh các ngộ nhận hoang tưởng khiến con cái thì quá tải còn cha mẹ lại mệ mỏi và thất vọng.

            - Tạo điều kiện, phương tiện tốt nhất có thể cho trẻ học tập và rèn luyện để trẻ phát triển năng khiếu ngày một tốt hơn. Chẳng hạn, nếu có điều kiện nên cho trẻ tham gia các lớp học ngoại khóa. Các lớp học về thể thao, âm nhạc, hội họa, ...sẽ giúp trẻ rèn luyện và trau dồi tốt hơn, toàn diện hơn. Không nên vẽ ra viễn cảnh “mai này con phải là thiên tài” để tránh gây áp lực cho trẻ.

            - Nếu biết con mình có năng khiếu, phụ huynh nên trao đổi với nhà trường, với GV dạy trực tiếp trẻ. Điều này giúp trẻ dễ hòa nhập với môi trường, với bạn nhưng vẫn phát triển được những năng khiếu cá nhân.

            - Nếu có thể, nên tạo điều kiện cho trẻ có năng khiếu chơi với bạn bè có cùng năng khiếu để trẻ dễ thích ứng với môi trường hòa nhập. Trong môi trường cùng phấn đấu, thi đua thì sẽ trẻ sẽ tiến bộ.

            - Dành thời gian để trả lời các câu hỏi của trẻ một cách nghiêm túc; chú ý khen ngợi trẻ; khuyến khích trẻ chia sẻ suy nghĩ để hiểu trẻ hơn; kích thích hứng thú ham hiểu biết của trẻ.

            - Lắng nghe trẻ trình bày các ý kiến của mình, khuyến khích trẻ phát biểu và giúp trẻ xây dựng sự tự tin vào bản thân.

            - Chủ động giúp trẻ theo đuổi sở thích; không quá gay gắt nếu trẻ không thỏa mãn được đòi hỏi hay kì vọng nào quá từ bạn.

            - Nêu trẻ có năng khiếu về lĩnh vực nào thì giáo dục theo hướng phát triển về lĩnh vực đó.

            Để bồi dưỡng năng khiếu cho trẻ có năng khiếu, GV cần:

- Bồi dưỡng hứng thú và vốn sống cho học sinh;

- Chọn những kiến thức quan trọng cần bồi dưỡng cho học sinh và hướng dẫn học sinh học tập để hình thành kiến thức, kĩ năng;

- Hướng dẫn học sinh cách tư duy và giải quyết vấn đề: đưa các tình huống lạ về trường hợp điển hình để giải quyết vấn đề, lập luận để tìm ra câu trả lời,...

- Đưa các kiến thức bài học vào thực tiễn để hình thành năng lực tương ứng với kiến thức bài học.

Có năng khiếu chưa chắc là học sinh giỏi, nhưng năng khiếu là điều kiện quan trọng để một học sinh trở thành học sinh giỏi, nếu năng khiếu đó được phát hiện và bồi dưỡng đúng phương pháp. Việc phát triển năng khiếu của học sinh cần được thực hiện phù hợp với đặc trưng môn học và với mỗi dạng trí tuệ khác nhau.

Sau đây là gợi ý tóm tắt “chiến lược” dạy học phù hợp với mỗi dạng trí tuệ:

4.3.1. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ ngôn ngữ

            Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ ngôn ngữ, GV nên:

1/. Tạo điều kiện cho HS học qua các câu chuyện thú vị chứa đựng ý tưởng chủ yếu của bài hoc.

2/. Hướng dẫn học sinh động não để nghĩ và vói được nhiều điều mình nghĩ.

3/. Ghi âm lại lời nói của học sinh để các em có thể vượt qua sự nhút nhát của bản thân, có thể nghe lại, nhận xét và điều chỉnh lời nói của bản thân:

4/. Hướng dẫn học sinh viết nhật kí về những điều riêng tư hay về hoạt động của tập thể;

5/. Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh in ấn bài viết và phân phát những bản in đó, tạo điều kiện cho người viết và người đọc giao lưu, trao đổi để các em thêm tự tin và để các em có thêm cơ hội rèn luyện ngôn ngữ.

4.3.2. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ lô-gic – Toán học

Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ lô-gic – Toán học, GV nên tạo cơ hội, tình huống để học sinh:

1/. Được nói về các con số, được tính toán và lượng hóa các thông tin;

2/. Phân loại và xếp hạng các đối tượng;

3/. Hỏi đáp, tranh luận với nhau và với GV về các tình huống có vấn đề;

4/. Tìm cách giải quyết vấn đề: giải quyết các vấn đề tương tự, chia nhỏ vần dề,...

5/. Tập tư duy khoa học qua việc phân tích các sự kiện thực tế hoặc giả định.

4.3.3. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ không gian

Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ không gian, GV nên:

1/. Trình bày thông tin của bài học bằng các hình ảnh;

2/. Hướng dẫn học sinh dùng màu sắc để hỗ trợ cho việc biểu đạt thông tin;

3/. Dùng hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ để biểu hiện, so sánh, kết nối các ý tưởng;

4/. Đưa ra các hình ảnh và hướng dẫn học sinh chắp nối các đường nét có thể có để bộc lộ suy nghĩ hay ý tưởng của các em.

5/. Dùng chữ kết hợp với hình để biểu thị các thông tin.

4.3.4. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ vận động

Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ vận động, GV nên hướng dẫn học sinh tập:

1/. Đáp ứng các “chỉ thị” học tập bằng cách sử dụng vận động cơ thể;

2/. Sân khấu hóa các hoạt động học tập;

3/. Diễn đạt suy nghĩ của mình bằng các vận động cơ thể;

4/. Tư duy, theo lối “bàn tay nặn bột”

5/. Sử dụng, “bản đồ cơ thể” trong quá trình học tập.

4.3.5. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ âm nhạc

Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ âm nhạc, GV nên:

1/. Cho học sinh học thông qua giai điệu và ca khúc;

2/. Sử dụng băng đĩa các ca khúc trong quá trình dạy học;

3/. Tổ chức hoạt động học trên nên âm nhạc;

4/. Dùng các đặc trưng vật lí của am thanh (độ cao, độ dài, ...) để mô phỏng nội dung bài học;

5/. Dùng âm nhạc thể hiện tâm trạng gắn với nội dung bài học.

4.3.6. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ giao tiếp

Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ giao tiếp, GV nên hướng dẫn học sinh:

1/. Chia sẻ với bạn bè cùng trang lứa;

2/. Cùng nhau nhập vai vào những nhân vật hoặc sự vật, hiện tượng trong bài học;

3/. Hợp tác theo nhóm;

4/. Tham gia các trò chơi tập thể - đặc biệt là các trò chơi ngôn ngữ;

5/. Dùng lời mô phỏng hiện thực.

4.3.7. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ nội tâm

Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ nội tâm, GV nên hướng dẫn học sinh:

1/. Suy ngẫm trong một khoảng thời gian ngắn;

2/. Liên kết các chi tiết, các sự kiện;

3/. Lựa chọn nội dung và quyết định thời gian thực hiện nội dung đó;

4/. Biểu lộ cảm xúc của bản thân;

5/. Đặt mục d8ich1 hoạt động.

4.3.8. Chiến lược dạy học cho HS có khuynh hướng trí tuệ thiên nhiên

Khi dạy những học sinh có khuynh hướng trí tuệ thiên nhiên, GV nên:

1/. Khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh dạo chơi trong thiên nhiên;

2/. Hướng dẫn học sinh quan sát (“nhìn ra cửa sổ”) và liên tưởng tới kiến thức của bài học;

3/. Tạo môi trường học tập gần với thiên nhiên trong đó có đưa cây cảnh – thậm chí có thú cưng vào bài học;

4/. Xây dựng mỗi nội dung bài học có liên hệ với các thông tin về sinh thái.

Để bồi dưỡng học sinh giỏi, GV cần phát hiện học sinh có năng khiếu và có chiến lược dạy học phù hợp với kiểu trí tuệ nổi trội của các em. Cần có kế hoạch lựa chọn nội dung, chọn cách tiếp cận, xây dựng hệ thống bài học và tổ chức bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh theo những cách phù hợp với đặc trưng của từng khoa học và từng môn học.

 

 

 

 

 

CÂU HỎI THẢO LUẬN, ÔN TẬP

 

  1. Thế nào là một GV hiệu quả?
  2. Phân tích những đặc điểm tích cực của mô hình trường tiểu học mới phù hợp với các hoạt động dạy học, giáo dục theo định hướng phát triển năng lực.
  3. Hãy phác họa mẫu hình GV tiểu học theo yêu cầu đổi mới GDPT.
  4. Nêu ý kiến của anh {chị} về việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học hiện nay.
  5. Chia sẻ kinh nghiệm phát hiện học sinh có năng khiếu và bồi dưỡng học sinh giỏi.
  6. Xây dựng nội dung và lập kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi mpt65 môn học ở trường tiểu học.

 

-----------------

 

CÂU HỎI THẢO LUẬN, ÔN TẬP

(Giảng viên – phụ trách)

 

  1. Người GV hiệu quả phải có các năng lực sư phạm gì? Phân tích nhóm năng lực dạy học?
  2.  Người GV hiệu quả phải có năng lực sư phạm gì, phân tích nhóm năng lực về giáo dục?
  3. Trình bày một số loại trí thông minh, trong thực tế giảng dạy anh chị tiếp xúc với HS có dấu hiệu của trí thông minh dạng nào? Hãy trình bày cách anh chị giúp đỡ HS phát triển năng lực?
  4.  Đơn vị của anh chị có cách thức phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi, năng khiếu như thế nào?